Searching Inventory...

Động cơ tăng áp là gì? Tại sao lại giúp tiết kiệm nhiên liệu?

Trong vòng 5 năm trở lại đây, hệ thống động cơ tăng áp (động cơ turbo) được các nhà sản xuất ô tô xem như một giải pháp hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, cũng như các tiêu chuẩn về khí thải ô tô rất  nghiêm ngặt tại mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới. Tăng thêm sức mạnh cho động cơ, tiết kiệm nhiên liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt… hệ thống động cơ tăng áp ngày càng được sử dụng phổ biến trên những chiếc xe hơi hiện nay.

Theo thống kê từ các chuyên gia trong lĩnh vực ô tô, từ năm 2012 hơn 50% ô tô tại thị trường châu Âu đã chuyển từ động cơ hút khí tự nhiên sang sử dụng động cơ tăng áp. Sự phát triển của hệ thống động cơ tăng áp vào năm 2015, khiến các hãng xe tên tuổi cũng phải thừa nhận rằng: “Thời kỳ động cơ hút khí tự nhiên đã kết thúc”. Hàng loạt mẫu xe của các thương hiệu cùng lần lượt được chuyển sang dùng động cơ tăng áp. Với những thế mạnh của loại động cơ này, các chuyên gia trong lĩnh vực ô tô dự báo, trong năm 2017 doanh số xe con sử dụng động cơ tăng áp sẽ chiếm 40,5% thị phần xe con toàn cầu (khoảng 39,4 triệu xe).

Với Chevrolet, một biểu ngữ lớn trên trang web gần đây đã giới thiệu về mẫu xe Chevrolet Cruze Eco và xe Chevrolet Trax Eco với động cơ tăng áp 1.4 lít có chỉ số tiêu thụ nhiên liệu “5.6l/100km và chẳng phải hi sinh niềm vui thích” cho thấy chiếc xe vẫn có thể đảm bảo tính tiết kiệm ngay cả khi người lái sử dụng tăng áp thường xuyên.

Động cơ tăng áp Tubro

Để hiểu về động cơ tăng áp, trước tiên bạn cần hiểu tăng áp có nghĩa là gì? Tăng áp là từ chung dùng để chỉ các hệ thống nạp nhiên liệu cưỡng bức. Có thể hiểu đơn giản, tăng áp là hệ thống nén thêm không khí vào buồng đốt, và như vậy có thể đưa vào nhiều nhiên liệu hơn qua đó làm tăng công suất mỗi khi hỗn hợp đốt nổ trong xy-lanh.

 

Phân loại động cơ tăng áp.

Động cơ tăng áp thông thường gồm hai loại là turbocharge và supercharge. Thông thường, áp suất nén tăng thêm của tăng áp vào khoảng từ 6-8 pao/inch vuông (psi) – tương đương với 0,408-0,544 atmosphere (at). Do áp suất thông thường trong không khí là 1 at, điều này có nghĩa là tăng áp đã đưa thêm khoảng 50% lượng không khí nữa vào động cơ. Như vậy, theo lí thuyết công suất của động cơ cũng sẽ tăng lên 50% song do hiệu suất không hoàn hảo, công suất của động cơ chỉ tăng thêm từ 30-40%.

Tăng áp động cơ giúp kết cấu động cơ nhỏ hơn nhưng sản sinh công suất lớn hơn và tiết kiệm nhiên liệu hơn. Điểm khác biệt chính giữa hai hệ thống turbocharge và supercharge là nguồn cung cấp năng lượng.

Với supercharge, một dây cua-roa được kết nối với trục khuỷu của động cơ để cung cấp động lực trực tiếp cho tăng áp. Trong trường hợp này, tăng áp là hệ thống kí sinh và trên thực tế động cơ mất đi một chút ít sức mạnh để truyền động lực cho hệ thống nén khí. Tuy nhiên, do được kết nối trực tiếp với trục khuỷu, công suất gia tăng sẽ hiện diện liên tục ở mọi tốc độ tua của động cơ vì thế supercharge không tạo ra hiện tượng “trễ” giống như turbocharge. Supercharge dễ lắp đặt hơn song cũng có giá thành đắt hơn, vì thế, ngày nay các nhà sản xuất ứng dụng turbocharge nhiều hơn. Supercharge có thể xoay với tốc độ lên tới từ 50.000-65.000 vòng/phút (rpm). Ở tốc độ 50.000 rpm, áp suất tăng thêm là từ 6-9 psi.

Với turbocharger, hệ thống này tận dụng sức mạnh của dòng khí thải. Nhờ bố trí một tuốc-bin nằm trên ông thoát khí thải, khi khí thải đi qua sẽ làm cho tuốc-bin này quay và nhờ thế nó làm quay máy nén khí vào xy-lanh của động cơ.
động cơ Tuborchager
Theo lí thuyết, turbocharge hiệu quả hơn bởi nó sử dụng năng lượng “thải” trong khí xả làm nguồn cung cấp động năng. Tuy nhiên, nhược điểm của turbocharge là tạo ra một áp suất ngược trong hệ thống xả và tạo ra áp suất nạp thấp hơn cho tới khi động cơ hoạt động ở tốc độ tua cao, đây chính là nguyên nhân dẫn tới động cơ lắp turbocharge ban đầu không “bốc” hay còn gọi là “trễ” – hiện tượng có thể thấy rõ ở động cơ chạy dầu.

Động cơ tăng áp Tuborchager

Do không khí bị nén, chúng trở nên nóng hơn và giảm bớt tỷ trọng, điều này cũng có nghĩa là không khí sẽ không nở nhiều khi xảy ra phản ứng nổ trong xy-lanh. Không khí nóng cũng chứa ít ôxy hơn, và vì thế sức mạnh của động cơ cũng sẽ giảm bớt. Để khắc phục nhược điểm này người ta sử dụng một hệ thống làm mát trung gian gọi là Intercooler vốn thường xuyên được kết hợp với tăng áp. Hầu hết Intercooler là các hệ thống làm mát bằng không khí. Ở những hệ thống này, dòng khí nén sẽ buộc phải đi qua một cụm trao đổi nhiệt giống như bộ tản nhiệt và được làm mát nhờ nhiệt độ không khí bên ngoài. Intercooler còn có loại làm mát bằng chất lỏng, theo đó chất lỏng làm mát được bơm qua một phần của hộp trao đổi nhiệt để làm mát luồng không khí nén ở bên trong. Hệ thống làm mát bằng chất lỏng hoạt động ổn định hơn vì chúng không phụ thuộc vào thay đổi nhiệt độ của môi trường, tuy nhiên hệ thống này lại phức tạp và vì thế hầu hết các nhà sản xuất đều sử dụng hệ thống làm mát bằng không khí.

Một lợi ích khác của tăng áp là chúng tạo ra độ xoáy cao khi nén không khí vào xy-lanh. Chính hiệu ứng xoáy này giúp không khí được trộn đều với nhiên liệu đốt làm tăng khả năng chúng được đốt cháy hoàn toàn. Chính vì thế, các động cơ phun nhiên liệu trực tiếp thường sử dụng tăng áp để cải thiện chu trình đốt trong xy-lanh.

Tuborchager 4
Nói tóm lại, động cơ tăng áp cho phép đưa nhiều hỗn hợp nhiên liệu đốt hơn vào xylanh, vì thế tạo ra sức mạnh lớn hơn trong mỗi chu kỳ nổ. Điều này cho phép các nhà sản xuất có thể sử dụng động cơ 4 xy-lanh để tạo ra công suất của một động cơ 6 xy-lanh và qua đó tiết kiệm lượng nhiên liệu tiêu thụ. Theo tính toán, turbocharge có thể cải thiện hiệu suất của một động cơ thông thường thêm 20%, và vì thế, hiện nay các nhà sản xuất ôtô trên thế giới đang tích cực ứng dụng công nghệ turbo trong động cơ hiện đại. Tuy nhiên, do động cơ tăng áp tạo ra công suất lớn hơn trên một đơn vị dung tích, các chi tiết trong động cơ vì thế cũng cần phải bền hơn để có thể chịu đựng được ứng suất cao hơn.

Turbocharge gồm ba phần chính, ở giữa hệ thống là các vòng bi xoay quanh một trục. Mỗi đầu của trục được gắn với một tuốc-bin nằm trong một hộp xoắn ốc (giống như vỏ ốc sên). Một tuốc-bin được gắn với ống xả để làm quay trục khi dòng khí xả đi qua. Ngược lại, khi trục quay, sẽ làm quay tuốc-bin thứ hai (còn được gọi là máy nén) để nén không khí vào trong cổ góp nạp. Turbocharge có thể xoay rất nhanh. Khi ôtô chuyển động thẳng đều trên đường, tuốc-bin của turbocharge có thể “chạy không tải” ở tốc độ 30.000 vòng/phút. Nhấn ga và các tuốc-bin này có thể tăng tốc lên từ 80.000- 100.000 vòng/phút do có nhiều khí xả nóng hơn được đẩy qua tuốc-bin.

 

Hiện nay ở Việt Nam có những dòng xe sử dụng động cơ tăng áp rất được ưa chuộng như xe Chevrolet Trax 2017 có giá 769tr, động cơ 140 mã lực, vượt trội hơn hẳn các xe cùng phân khúc SUV cỡ nhỏ. Hoặc xe Chevrolet AVEO có giá chỉ từ 459tr. Quý khách vui lòng liên hệ Hotline 0904 088 388 để được tư vấn và báo giá tốt nhất.

Comments are closed.

Tính lãi suất trả góp

đ

TƯ VẤN BÁN HÀNG